Tiểu luận Đối thoại
TA THƯỜNG MẠNH HƠN MÌNH TƯỞNG
Tôi từng nghĩ điều đáng sợ hơn cả của lão hóa là cơ thể không còn nghe lời như trước.
Chương 1: Hiện thực thường hiền hơn nỗi sợ
Ta đã đi qua ba phần đầu của Chương 1, ở đó, Phần 1.1 đặt ra câu hỏi, Phần 1.2 trao cho câu hỏi một gương mặt, và Phần 1.3 để khoa học bước đến, không đứng trên câu chuyện, mà đứng cạnh nó. Phần 1.4 có nhiệm vụ đưa cả ba trở về nơi câu chuyện bắt đầu - đời sống.
Phần 1.4: Căn phòng, chiếc ghế, và ô cửa
Sau cùng, điều còn lại trong ký ức tôi không phải tên bệnh. Cũng không phải các dụng cụ chăm sóc. Không phải chiếc giường đa chức năng. Không phải ống xông. Không phải những lần đo đếm thức ăn, nước uống, phân, hay nước tiểu.
![]() |
Cha không còn khả năng tự đứng dậy và đi lại. Một buổi sáng, sau khi vệ sinh và dùng bữa, điều đầu tiên mẹ làm là cố gắng ra mở cửa rồi dùng sức vốn đã yếu kéo dần cha ra ngoài. Có khi điều bệnh nhân cần nhất không phải là bước ra ngoài. Chỉ cần biết ngoài cánh cửa ấy, bầu trời vẫn còn ở đó, vẫn còn tiếng chân người, và vẫn còn tiếng rao của chị ‘ai chai chè đồng nát đê’. Ảnh: EWLCC |
Những việc ấy từng chiếm gần trọn mỗi ngày.
Vậy mà, khi thời gian lùi xa, chúng dần đứng về phía sau.
Phía trước chỉ còn ba hình ảnh.
Một căn phòng.
Một chiếc ghế.
Một ô cửa.
Ba vật bình thường.
Nhưng trong những năm cuối đời mẹ, chúng gần như trở thành ba phép thử của sự sống.
Căn phòng là nơi bảo vệ mẹ.
Ở đó, mọi thứ được sắp xếp để mẹ không ngã.
Không lạnh.
Không đói.
Không bị bỏ quên.
Căn phòng giữ mẹ an toàn.
Thế nhưng,
căn phòng cũng có thể khép thế giới
Khi không còn tự bước ra ngoài, bốn bức tường không chỉ giới hạn không gian.
Chúng có thể giới hạn cả thời gian.
Ngày hôm qua giống hôm nay.
Buổi sáng giống buổi chiều.
Thứ Hai không khác Chủ Nhật.
Mùa hè đôi khi chỉ còn được nhận biết qua luồng sáng nóng hơn lọt vào phòng.
Mùa đông là thêm tấm chăn.
Nếu không có tiếng hàng xóm đi lại, căn phòng dễ trở thành nơi cuộc sống chỉ tiếp tục về sinh học.
Tim vẫn đập.
Phổi vẫn thở.
Thức ăn vẫn được đưa vào cơ thể.
Có điều một đời sống không chỉ cần được duy trì.
Nó còn cần được đánh thức
Chiếc ghế làm việc ấy.
Nó đưa mẹ ra khỏi mặt phẳng của chiếc giường.
Đưa đôi mắt từ trần nhà trở lại tầm mắt của những ai xung quanh.
Đưa mẹ từ tư thế được chăm sóc sang tư thế có thể tham dự.
Khi nằm, mọi người thường đứng phía trên mẹ.
Khi ngồi, khuôn mặt gần ngang nhau hơn.
Khác biệt ấy chỉ là độ cao.
Nhưng không chỉ là độ cao.
Nó thay đổi cách ta nhìn nhau
Ai đấy nằm lâu dễ được nhìn như cơ thể cần nâng, xoay, lau rửa, cho ăn, và theo dõi.
Ai đấy ngồi trước mặt ta trở nên gần hơn với hình ảnh vốn có của họ.
Họ có ánh mắt.
Có biểu cảm.
Có đồng ý.
Có từ chối.
Có mong muốn.
Có thể không nói được.
Họ vẫn hiện diện như chủ thể của căn phòng.
Có lẽ đó là điều mẹ lựa chọn mỗi khi muốn ngồi dậy.
Mẹ không chỉ rời chiếc giường
Mẹ trở lại vị trí của mình trong gia đình.
Rồi đến ô cửa.
Có thời gian, tôi nghĩ, ô cửa chỉ giúp căn phòng sáng hơn.
Sau này mới hiểu nó còn làm điều khác.
Nó nhắc rằng bên ngoài vẫn có một thế giới.
Cây ngoài ban công vẫn đổi lá.
Mưa vẫn rơi.
Nắng vẫn dịch dần trên tường.
Xe vẫn qua phố.
Ai đấy vẫn đi làm rồi trở về.
Một đứa trẻ vẫn lớn lên.
Một bậc cao niên vẫn yếu đi.
Cuộc sống không dừng lại chỉ vì có người không còn bước ra khỏi phòng nữa.
Ô cửa mang chuyển động ấy đến gần mẹ.
Và có lẽ, bằng cách nhìn qua nó, mẹ vẫn còn được dự phần vào dòng chảy của thời gian.
Trước khi mẹ yếu hẳn, tôi từng nhìn thấy bà mở cửa cho cha ngắm cây cối ngoài ban công.
Khi ấy cha đã không còn tự di chuyển dễ dàng
Mẹ cũng chẳng còn khỏe.
Vậy mà bà vẫn cố làm.
Không gọi con.
Không đợi ai.
Chỉ lặng lẽ mở cánh cửa.
Lúc ấy, tôi nhìn thấy việc nhỏ.
Bây giờ, tôi nhìn thấy cả một đời sống.
Mẹ không thể đưa cha trở lại những nẻo đường ông từng đi.
Không thể đưa ông về Phá Tam Giang.
Không thể trả ông về chiếc xe đạp từng chở cả nhà qua những quãng đường dài.
Bà chỉ có thể mở cửa.
Cho ông thấy ít cây xanh.
Một khoảng trời.
Có khi, chăm sóc không phải đưa ai đấy đến với thế giới.
Chăm sóc, hiểu đơn giản, là mang thế giới đến gần họ thêm chút nữa.
Tôi đã mất nhiều năm để hiểu…
điều tưởng như giản dị đó
Trong quãng thời gian chăm cha mẹ, tôi thường nghĩ trách nhiệm nằm ở làm đúng.
Cho ăn đúng.
Vệ sinh đúng.
Xoay trở đúng.
Theo dõi đúng.
Giữ an toàn đúng.
Những điều ấy cần thiết.
Không thể thiếu.
Thế nhưng, có những thời điểm, điều đúng về kỹ thuật chưa chắc chạm được điều người được chăm sóc mong muốn.
Ta có thể giữ cơ thể ai đấy an toàn mà vô tình làm đời sống của họ nghèo đi.
Ta có thể ngăn một nguy cơ mà không nhận ra mình cũng đang ngăn một kết nối.
Ta có thể nhân danh đạo đức, trật tự, vệ sinh, hay thuận tiện để quyết định thay những người không còn đủ sức phản đối.
Không phải vì ác ý.
Đôi khi chính vì thương.
Và cũng chính vì thương nên sai lầm ấy càng khó nhận ra
Tôi từng dùng sức khỏe của mình để quyết định khoảng cách giữa cha và mẹ.
Tôi nghĩ mình đang giữ gìn điều nên giữ.
Tôi tách họ sang hai phòng.
Khi cha cố lần sang phòng mẹ, tôi dìu ông quay lại.
Có thể lúc ấy tôi tưởng ông không còn biết mình đang đi đâu.
Nhiều năm sau, tôi mới hiểu
Có lẽ cha biết cực rõ
Ông chỉ muốn sang với mẹ.
Không có kiến thức nào đưa tôi trở lại khoảnh khắc ấy.
Không có cách chăm sóc tận tụy nào về sau có thể sửa nó.
Đời sống không cho ta quay lại để hành động đúng hơn.
Nó chỉ cho ta khả năng hiểu muộn hơn.
Hiểu muộn ấy không xóa mặc cảm.
Nhưng hiểu muộn có thể biến mặc cảm thành câu hỏi dành cho ngày mai:
Khi chăm sóc ai đấy, ta đang bảo vệ họ khỏi điều gì?
Và ta có vô tình lấy đi điều gì khác của họ không?
Có lẽ phẩm giá bắt đầu từ chính câu hỏi ấy.
Không phải từ những lời cao xa
Phẩm giá bắt đầu từ việc thừa nhận rằng một cơ thể yếu đi vẫn chứa một đời sống riêng.
Một đời sống có ký ức.
Có gắn bó.
Có khao khát.
Có những nhu cầu không còn biểu đạt được thành lời.
Có những lựa chọn khiến người khỏe mạnh thấy bất tiện, vô lý, thậm chí khó chấp nhận.
Phẩm giá không đòi hỏi chúng ta phải đồng ý với mọi lựa chọn.
Nó đòi hỏi, trước khi quyết định thay, ta phải cố hiểu điều đang được lựa chọn.
Cả đời mẹ tôi luôn muốn ngồi dậy
Lúc trẻ, bà ngồi bên chiếc máy may.
Ngồi trong những chuyến sơ tán.
Ngồi bên bếp.
Ngồi chờ cha trở về sau những ngày cuối tuần.
Ngồi chăm các cháu.
Ngồi cạnh cha khi ông yếu đi.
Đến những ngày cuối, khi cơ thể gần như không còn nghe theo ý muốn, mẹ vẫn muốn được đưa khỏi giường.
Vẫn muốn ngồi.
Có thể bà không nghĩ về phẩm giá.
Không biết đến phục hồi chức năng.
Không cần Pascal hay Frankl giải thích.
Bà chỉ tiếp tục sống theo cách mình đã sống cả đời:
ở gần những gì mình thương.
Và làm điều gì đó cho những ai đang ở quanh mình.
Có lần tôi tự hỏi
Mẹ muốn sống hay muốn ra đi?
Bây giờ, tôi không còn nghĩ câu hỏi ấy đủ sức chứa hiện thực.
Có những ngày, ai đấy có thể quá đau để mong sống thêm thật lâu.
Nhưng ta vẫn muốn thấy người thân thêm một lần.
Vẫn muốn nghe tên ai đấy.
Vẫn muốn ngồi cạnh cửa.
Vẫn muốn bàn tay mình được nắm lấy.
Khát vọng sống không phải lúc nào cũng xuất hiện như lời tuyên bố lớn lao.
Nó có thể chỉ là một ánh mắt sáng lên khi được nâng dậy.
Một tiếng gọi bật ra khỏi cơ thể đã cứng đờ.
Một cố gắng quay đầu về phía căn phòng bên kia.
Một nụ cười kéo dài vài giây.
Hiện thực không hứa sẽ nhẹ
Tuổi già vẫn có thể đau đớn.
Bệnh tật vẫn có thể tước đi gần như tất cả.
Chăm sóc vẫn có thể làm kiệt sức cả gia đình.
Sai lầm vẫn xảy ra, kể cả khi ta đã dốc toàn bộ tình thương.
Cái chết vẫn đến theo cách không ai chuẩn bị đủ.
Hiện thực không hiền lộ theo nghĩa nó miễn cho ta đau khổ.
Nó hiền hơn nỗi sợ ở chỗ khác.
Khi điều đáng sợ thật sự đến, người ta không chỉ có phần đã mất.
Họ còn có phần thích nghi.
Phần gắn bó.
Phần tìm ý nghĩa.
Phần vẫn muốn hướng về ánh sáng.
Và đôi khi, phần ấy, …
hiện thực tồn tại lâu hơn tất cả những gì ta từng tưởng
Một căn phòng.
Một chiếc ghế.
Một ô cửa.
Ban đầu, tôi nghĩ đó chỉ là nơi mẹ sống những năm cuối đời.
Bây giờ, tôi hiểu chúng còn là bài học đầu tiên của mình về chăm sóc.
Căn phòng dạy tôi rằng an toàn chưa phải toàn bộ cuộc sống.
Chiếc ghế dạy tôi rằng thay đổi tư thế đôi khi cũng là giành lại vị trí trong thế giới.
Ô cửa dạy tôi rằng khi ai đấy không thể bước ra với đời sống, ta vẫn có thể mở đường để đời sống tìm đến họ.
Còn mẹ dạy tôi điều khó nhất.
Chăm sóc không chỉ là làm mọi việc cho một người.
Chăm sóc còn là học cách không che khuất người ấy bằng chính những điều ta đang làm cho họ.
Thay lời kết Chương 1
Chúng tôi không muốn khép Chương I bằng một lời ca ngợi nghị lực.
Cách ấy dễ biến mẹ thành biểu tượng và làm phẳng một hiện thực vốn có cả yêu thương, sai lầm, thân thể, dục tính, và mất mát cùng mặc cảm.
Chúng tôi cũng không muốn dùng day dứt để mở một phiên tòa với quá khứ.
Điều quan trọng hơn là để ký ức sinh ra một năng lực mới trong hiện tại.
Chương 1 có sứ mệnh hình thành năng lực nhìn ai đấy được chăm sóc như chủ thể vẫn có quyền hướng về điều họ yêu, ngay cả khi cơ thể không còn đủ sức tự mình đi tới.
Chương I, vì vậy, không kết luận rằng mẹ mạnh mẽ.
Nó chỉ cho thấy bà đã lựa chọn.
Và nó buộc chúng ta phải tự hỏi liệu y học, gia đình, cùng những ai có sức khỏe hơn đã thực sự học được cách lắng nghe lựa chọn ấy hay chưa.
Điều chúng ta vừa nhìn thấy ở Chương 1 không kết luận rằng mẹ mạnh mẽ.
Chúng tôi nghĩ đó không chỉ là cách kết một chương. Nó còn có thể trở thành nguyên tắc nền của cả tiểu luận chuyên đề ‘Ta thường mạnh mẽ hơn mình tưởng’ - nguyên tắc khai sáng gói gọn trong công thức ‘ba không’ và ‘ba đủ’.
Nguyên tắc ‘ba không’:
Không vội biến một số phận thành bài học.
Không phong thánh cho đau khổ.
Và không ép ai đấy phải “truyền cảm hứng” chỉ vì họ đã chịu đựng.
Nguyên tắc ‘ba đủ’:
Đủ nhìn thật lâu.
Đủ kiên nhẫn để nhận ra họ đã lựa chọn điều gì.
Và đủ khiêm nhường để tự hỏi liệu ta có từng che khuất lựa chọn của họ bằng những kết luận đẹp đẽ của chính mình hay không.
Bộ nguyên tắc ‘khai trí’ này sẽ tiếp tục được tuân thủ trong các chương kế tiếp.
