![]() |
| Chuyển hóa từ bài báo khoa học chuyên ngành sang bài báo phổ thông nhiều khi khó không kém một nghiên cứu khoa học (Nguồn: https://generative-ai-newsroom.com) |
Kỳ 3: Ngôn ngữ phản biện của nhà báo và nhà khoa học
Kỳ này sẽ phân tích ngôn ngữ phản biện trong bài của phóng viên khoa học Alice Klein trên cơ sở câu hỏi tổng quát:
Với phản biện kiểu ấy, nếu được chấp nhận rộng rãi, đâu là ngôn ngữ phản biện đặc thù? Nó khác với ngôn ngữ phản biện của nhà khoa học ở chỗ nào?
Từ phòng thí nghiệm …
Biên tập viên vanhoadongtay.vn (BVT):
Từ góc độ của ngôn ngữ phản biện, nhà báo nói khác nhà khoa học ở đâu?
TS Hoàng Quốc Dũng (HQD):
Ngôn ngữ phản biện báo chí khoa học có vị trí khá đặc biệt. Nó đứng:
giữa ngôn ngữ chuyên môn của phòng thí nghiệm
và ngôn ngữ đời sống của công chúng.
Trong khi ấy, ngôn ngữ phản biện của nhà khoa học thường:
thận trọng,
kỹ thuật,
và có cấu trúc chặt.
CTV:
Đề nghị cho biết cụ thể hơn.
HQD:
Nó, ngôn ngữ phản biện khoa học, dùng cả núi khái niệm như cỡ mẫu, đối chứng, độ tin cậy, sai số, giá trị xác suất (p-value, hoặc probability value), khoảng tin cậy (confidence interval), cơ chế tác dụng, sinh khả dụng, dược động học, độc tính, tái lập kết quả, phân tích gộp, rồi thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng.
Mục tiêu chính (của kể chuyện khoa học với khoa học) là nói với cộng đồng chuyên môn, nên độ chính xác của phản biện được đặt lên hàng đầu, kể cả khi văn bản khó đọc với công chúng phổ thông.
… ra công chúng, khoa học đổi giọng ra sao
Ngôn ngữ phản biện của nhà báo khoa học, ngược lại, khác hẳn thế.
Nó phải dịch hệ thống bằng chứng ấy sang ngôn ngữ:
có thể đọc được,
nhớ được,
và liên hệ được với đời sống.
Vì vậy, nó thường có khoảng năm đặc điểm cơ bản sau.
Một là, mở đầu bằng tình huống gần gũi
Trong bài báo đang được khảo sát (Xem Kỳ 1), Alice Klein bắt đầu bằng ‘sữa vàng’, thời tiết lạnh ở Úc và các công thức lan truyền trên mạng xã hội.
Đấy không phải là cách mở đầu của một bài nghiên cứu khoa học, nhưng là cách kéo độc giả từ đời sống thường nhật bước vào một câu hỏi khoa học chuyên sâu.
Hai là, dùng câu hỏi làm trục
‘Curcumin có thật sự đem tới lợi ích sức khỏe không?’
Cách đặt câu hỏi ấy không quá chuyên môn, nhưng đủ mạnh để buộc độc giả dừng bước, trên tiến trình đọc liền mạch, trước một niềm tin đang phổ biến.
Ba là, dùng hình ảnh dễ thấy và ẩn dụ
Ví dụ, khi trích ý kiến cho rằng curcumin giống ‘tên lửa nổ ngay trên bệ phóng’, bài báo biến vấn đề dược động học khô khan thành một hình ảnh dễ hiểu - hoạt chất chưa kịp đến nơi cần tác dụng đã thất bại trên đường đi.
Không rõ vô tình hay hữu ý, ta thấy Alice đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn quy luật hình thành và phát triển các địa danh có đa nghĩa cả tục lẫn thanh vốn phổ biến ở mọi nền văn hóa và mọi dân tộc trên thế giới.
Với Xóm Bướm, một địa danh ở Xã Xuân Lũng, Tỉnh Phú Thọ của Việt Nam, chẳng hạn, nó được hình thành theo cách như vậy.
Không cần diễn giải nhưng vẫn gợi một hình dung. Không cần so sánh song vẫn tạo một liên tưởng.
Cách đặt tên như vậy - nơi trực diện và ẩn dụ cùng tồn tại, nơi cái mộc mạc không tách rời cái tinh tế, cái thô ráp không xa lìa cái tế nhị - có khả năng gây chú ý đặc biệt và thấm sâu vào ký ức.
Hệt như thế, Alice đã thành công khi so sánh khái niệm trừu tượng ‘hiệu quả hay không hiệu quả của curumin’ với hình tượng trực diện ‘tên lửa nổ ngay trên bệ phóng’.
Bốn là, có giọng cá nhân
Alice Klein không ngại dùng trải nghiệm của mình như một kiểu bằng chứng phi chính thống nhưng thuyết phục được đại chúng. Cô tiết lộ:
từng làm tiến sỹ về phát triển thuốc ung thư,
từng thấy đồng nghiệp khó làm việc với curcumin,
rồi tự pha sữa nghệ.
BTV:
Rõ ràng, giọng cá nhân làm bài dễ đọc hơn.
HQD:
Tuy thế, đấy cũng là chỗ cần cảnh giác.
Trải nghiệm cá nhân chỉ giúp dẫn chuyện, chứ không thể thay thế bằng chứng.
Năm là, tổ chức thông tin theo mạch kể chuyện
Bài không đi từ phương pháp đến kết quả như một nghiên cứu khoa học, một nguyên tắc gần như bất định của khoa học thực chứng kể từ thời đại Khai Sáng, và hầu như không ai muốn hoài nghi.
Đồng hồ hành trình kể chuyện của tác giả được vặn ngược lại theo trật tự như sau.
Trước hết, nó đi từ hiện tượng xã hội. Sau đấy, nó mới:
đến với lịch sử nghiên cứu,
đến với nghi vấn liêm chính khoa học,
đến với hóa học của curcumin,
đến với thử nghiệm lâm sàng,
đến với nguy cơ gan,
rồi mới hồi quy, quay lại với sữa nghệ như một món dễ chịu về hương vị, thay vì (chứ không phải) phương thuốc kỳ diệu.
Quyền lực phát ngôn – khác biệt lớn nhất
BTV:
Vậy đâu là khác biệt lớn nhất giữa phát ngôn khoa học và phát ngôn báo chí?
HQD:
Khác biệt lớn nhất nằm ở quyền lực phát ngôn.
Một mặt, nhà khoa học phản biện bằng:
tư cách chuyên môn trực tiếp,
qua dữ liệu, phương pháp, phân tích,
và kinh nghiệm nghiên cứu sâu trong lĩnh vực.
Mặt khác, nhà báo phản biện bằng:
năng lực tổng hợp,
kiểm chứng nguồn,
đặt câu hỏi,
phỏng vấn chuyên gia,
và chuyển hóa tri thức chuyên môn thành ngôn ngữ công cộng.
Do đó, ngôn ngữ phản biện báo chí có thể:
sắc,
gần,
sống động,
và dễ lan tỏa
hơn ngôn ngữ khoa học.
BTV:
Có điều, đấy không thể là thứ dao vạn năng, đủ sắc để chém được mọi thứ?
HQD:
Đúng thế. Nó cũng dễ trượt sang kịch tính hóa nếu không giữ ranh giới.
Các cụm từ như:
‘không có lợi ích nào’,
‘sự thật về curcumin’,
‘quá tốt để là thật’,
hay ‘rủi ro chết chóc’
có thể cần thiết để gây chú ý
Tuy nhiên, nếu dùng quá mạnh, chúng có thể làm độc giả hiểu rằng toàn bộ lĩnh vực đã bị đóng sập, trong khi khoa học thường phức tạp hơn thế. Khoa học cũng như thế giới, không bao giờ có điểm dừng.
BTV:
Nếu vậy, đâu là ngọn đèn pha để báo chí khoa học không vượt khỏi hai làn ranh tả và hữu, cực tả và cực hữu?
HQD:
Nếu phản biện báo chí khoa học được chấp nhận rộng rãi, ngôn ngữ đặc thù của nó cần luôn được soi xét theo ba góc, theo cách nói của Khổng Tử (擧一隅則以三隅反 – cử nhất ngung tắc dĩ tam ngung phản – xét một góc tất xét ba góc khác).
Đấy là thứ ngôn ngữ nên dựa trên ít nhất ba tầng:
dễ hiểu với công chúng,
trung thành với bằng chứng,
và tự biết giới hạn của mình.
Tiểu kết
Ngôn ngữ báo chí càng dễ đọc, nguy cơ ngộ nhận càng lớn. Bài tiếp theo, Kỳ 4, sẽ bàn về câu hỏi then chốt: độc giả nên tin ai, nhà khoa học, nhà báo, hay chính quy trình kiểm chứng?
