Thôi, đến lúc thú nhận rồi - Chúng ta đã hiểu sai về ánh nắng mặt trời (Kỳ 1)

Một bài báo về ánh nắng mặt trời, thoạt nhìn, có vẻ thuộc lĩnh vực y sinh. Nhưng đọc kỹ, đây còn là một câu chuyện văn hóa – ngôn ngữ: người hiện đại đã học cách gọi mặt trời bằng những từ gì?

“Nguy cơ”, “ung thư da”, “tia cực tím”, “chống nắng”, “tránh nắng” - hay “năng lượng”, “nhịp sống”, “tỉnh thức”, “trạng thái sống động”?

Vì sao tác giả chọn mở đầu bằng trải nghiệm cá nhân thay vì mở ngay bằng số liệu khoa học? Đây là điểm mạnh hay điểm cần cảnh giác của báo chí khoa học?

Kỳ 1:Khi mặt trời bị đổi tên - từ nguồn sống thành nguy cơ

Kỳ 1 mở đầu từ trải nghiệm cá nhân của tác giả Rowan Jacobsen để đặt ra câu hỏi: phải chăng cách ta nói về ánh nắng đã âm thầm định hình cách ta sống với cơ thể mình?

Sau đây là đoạn trích từ cuốn sách sắp ra mắt của Rowan Jacobsen, "In Defense of Sunlight: The Surprising Science of Sun Exposure" (Bảo vệ ánh nắng mặt trời: Khoa học đáng ngạc nhiên về tiếp xúc với ánh nắng mặt trời), (sách được rao bán trên Amazon, https://www.amazon.com/dp/1668092166/?tag=slateyahoo-rss-20&ncid=pushly) do Simon & Schuster xuất bản ngày 16 tháng 6. Đoạn trích đã được biên tập và tóm tắt cho Slate.

Mùa xuân năm 2025, tôi trở nên vô cùng say mê một chủ đề, trong bảy năm qua, ngày càng hiện hữu trong tâm trí tôi. Chủ đề đó, thứ sẽ sớm chiếm trọn mọi suy nghĩ của tôi và cuối cùng tôi sẽ biến nó thành sách (được quảng bá trên nhà xuất bản Simon & Schuster, https://www.simonandschuster.com/books/In-Defense-of-Sunlight/Rowan-Jacobsen/9781668092163?ncid=pushly), chính là ánh nắng mặt trời.

Từ mùa đông Vermont đến câu hỏi về cơ thể

Tò mò bắt nguồn từ nghiên cứu quan sát liên tục về một đối tượng duy nhất: tôi. Tôi sống ở Vermont. Mùa hè tuyệt đẹp, mùa đông khắc nghiệt. Qua nhiều năm, tôi bắt đầu nhận thấy tác động sâu sắc của các mùa khác nhau với tôi. Về cơ bản, mùa đông thật tệ. Đây không chỉ đơn thuần là chứng Rối loạn Cảm xúc Theo mùa (Seasonal Affective Disorder), một tình trạng phổ biến khiến ai nấy cảm thấy buồn bã trong những tháng mùa đông, và được cho là do thiếu ánh sáng chiếu vào mắt. Tôi không cảm thấy chán nản vào mùa đông. Tôi cảm thấy như thể các tế bào trong cơ thể mình không hoạt động.

Mùa hè, các giác quan của tôi nhạy bén hơn. Suy nghĩ của tôi sắc sảo hơn. Tôi ăn ít hơn nhưng làm nhiều việc hơn, như thể chất dinh dưỡng và oxygen được lưu thông tự do hơn. Da tôi cảm thấy tươi tắn hơn, đặc biệt là khi nó có chút sắc hồng. Và tôi hạnh phúc hơn nhiều. Những điều nhỏ nhặt dường như mang tới niềm vui sâu sắc.

Và rồi, khi ngày trở nên ngắn hơn và nhiệt độ giảm xuống, tất cả biến mất. Điều này không phải do thiếu vận động. Tôi vẫn đi trượt tuyết đường trường mỗi khi trời đẹp vào mùa đông. Có lẽ tôi tập luyện tim mạch nhiều hơn trong những tháng có tuyết. Nhưng điều đó không quan trọng. Mùa đông, não và cơ thể tôi không bao giờ cảm thấy hoạt động hết công suất.

Đó cũng không chỉ là cảm giác khó chịu mơ hồ. Tôi có thể thấy khác biệt. Trong gương, tôi trông hơi mập lên. Dù vẫn trượt tuyết, tôi vẫn có một chút bụng mỡ đến cuối đông. Huyết áp của tôi cũng tăng vài điểm.

Và không chỉ riêng tôi. Hầu hết những ai tôi quen biết đều mất đi cái sắc bén vào mùa đông. Nhiều người bị trầm cảm. Chúng tôi than thở về những ngày ngắn ngủi. Người ta không ngủ đông như gấu hay chuột chũi, nhưng rõ ràng cơ thể chúng ta đang chuyển sang chế độ tiết kiệm năng lượng khi mặt trời lặn.

Khi ánh nắng không chỉ đi vào mắt mà còn chạm vào da

Dường như điều đó hiển nhiên có liên quan đến ánh sáng. Một ngày xuân tươi sáng sau một thời gian dài nhiều mây mù giống như được uống nước giếng sau khi bò qua sa mạc. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều về cơ chế này cho đến năm 2014, khi một nhóm các bác sĩ da liễu tại Trường Y Harvard xác nhận khả năng cải thiện tâm trạng (được thảo luận tại Harvard Medical School, https://hms.harvard.edu/news/addicted-sun?ncid=pushly) của ánh nắng mặt trời. Hóa ra, khi các tế bào da của chúng ta tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, chúng sẽ sản sinh ra một loạt hormone có tác động sâu sắc đến cơ thể và não. Một trong số đó kích hoạt quá trình sản sinh melanin, sắc tố tối màu giúp chúng ta rám nắng và bảo vệ chúng ta khỏi bị cháy nắng, đồng thời cũng là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ có thể loại bỏ những tổn thương do tia nắng mặt trời gây ra.

Ánh nắng mặt trời cũng kích thích sản sinh cortisol, hormone hoạt động. Nó làm cho các tế bào của bạn hoạt động nhanh hơn. Bạn trở nên tỉnh táo hơn, tiêu hao nhiều năng lượng hơn và cảm thấy tập trung hơn. Ai nấy thường nghĩ cortisol là "hormone gây căng thẳng" và cho rằng đó là dấu hiệu của rắc rối, nhưng thực tế cortisol là hormone giúp đối phó với căng thẳng - và căng thẳng trong trường hợp này có thể là bất cứ điều gì mà thế giới ném vào bạn đòi hỏi một phản ứng, tốt hay xấu. Cortisol chỉ trở thành vấn đề khi nó được sản sinh quá mức một cách mãn tính để đáp ứng với quá nhiều căng thẳng. Tôi thực sự coi cortisol là hormone "trong trạng thái tập trung cao độ". Khi bạn đang trong một trận đấu quần vợt, sẵn sàng tận dụng một cú giao bóng yếu, và tung một cú đánh chéo sân ghi điểm, đó là cortisol đang hoạt động. Khi bạn đang thắng lớn trong trò chơi đoán chữ vào buổi tối, đó cũng là cortisol. Nó là hormone của hiệu suất cao, của vượt qua thử thách, và nó tự nhiên tăng vào buổi sáng, nhưng diễn ra nhanh hơn khi ánh nắng mặt trời chiếu vào da.

Một hợp chất phản ứng với ánh nắng mặt trời thứ ba là endorphin, tràn ngập não với các opioid tự nhiên, kích hoạt trạng thái hạnh phúc. Đó là trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Harvard, từng phát hiện rằng ngăn chặn các opioid đã gây các triệu chứng cai nghiện. Trong bài báo và thông cáo báo chí kèm theo, họ tuyên bố rằng ánh nắng mặt trời thực sự gây nghiện.

Đảo ngược câu hỏi

Với tôi, phát hiện này có ý nghĩa tiến hóa sâu sắc. Hệ thống phần thưởng sinh học tiến hóa để khuyến khích hành vi có lợi. Vì vậy, phát hiện này có phần khó hiểu. Như hầu hết đồng loại, từ nhỏ tôi đã được dạy rằng ánh nắng mặt trời là điều xấu, nguyên nhân chính gây ung thư da, và rằng liều lượng duy nhất được phép tiếp xúc với làn da không được bảo vệ của tôi là zero. Có điều nếu chúng ta được lập trình để tìm kiếm ánh nắng mặt trời, chắc chắn phải có lý do.

Song đấy không phải là cách các bác sĩ Harvard nhìn nhận vấn đề. Họ thừa nhận rằng phát hiện này hàm ý một số "lợi ích tiến hóa tiềm năng... củng cố hành vi tìm kiếm tia cực tím", nhưng họ không muốn đụng đến chuyện đó bằng chiếc dù che nắng dài 3 mét đi nữa. Thay vào đấy, họ tập trung vào làm thế nào nó giúp giải thích tại sao khó để thay đổi thói quen phơi nắng của người ta. Thậm chí còn có ý kiến ​​cho rằng coi tắm nắng giải trí như hình thức lạm dụng ma túy.

Với tôi, dường như rõ ràng rằng chúng ta cần đảo ngược câu hỏi. Nếu ánh nắng mặt trời chiếu vào da vào buổi sáng giúp chúng ta tràn đầy năng lượng cho cả ngày, và khiến chúng ta cảm thấy tuyệt vời để đảm bảo rằng chúng ta sẽ lại ra ngoài vào lúc bình minh hôm sau, liệu có những lợi ích sinh học nào khác chúng ta chưa khám phá?

Ghi chú của biên tập viên

Tác giả: Rowan Jacobsen

Nguồn: https://health.yahoo.com/wellness/healthy-aging/longevity/articles/welp-time-fess-got-sunlight-143321735.html?utm_source=pushly&ncid=pushly

Bài gốc: Welp, It’s Time to Fess Up: We Got Sunlight All Wrong

Subheadline: do biên tập viên của EWLCC đặt

Bộ câu hỏi văn hóa – ngôn ngữ cho cuối kỳ 1

  1. Khi một hiện tượng tự nhiên như ánh nắng mặt trời được gọi chủ yếu bằng ngôn ngữ của “nguy cơ”, điều đó làm thay đổi hành vi xã hội như thế nào?

  2. Cụm “sun kisses skin” nên dịch thế nào để vừa giữ chất văn chương vừa không làm bài bị sướt mướt?

  3. “Stress hormone” và “dealing-with-stress hormone” cho thấy cùng một thuật ngữ khoa học có thể bị công chúng hiểu lệch ra sao?

  4. Vì sao tác giả chọn mở đầu bằng trải nghiệm cá nhân thay vì mở ngay bằng số liệu khoa học? Đây là điểm mạnh hay điểm cần cảnh giác của báo chí khoa học?

  5. “Đảo ngược câu hỏi” có phải là thao tác quan trọng trong truyền thông khoa học: không chỉ hỏi “cái gì nguy hiểm?”, mà còn hỏi “ta đã đánh mất điều gì khi chỉ nhìn thấy nguy hiểm?”