Lời dẫn
Khi nói đến lão hóa lành mạnh, chúng ta thường nghĩ tới gene, chế độ ăn, vận động hay thuốc men. Nhưng nghiên cứu về các bậc trên 80 tuổi vẫn sở hữu trí nhớ tương đương những ai trẻ hơn hàng chục năm đang gợi ra một khả năng khác: minh mẫn không chỉ được bảo vệ trong từng tế bào thần kinh, mà còn được nuôi dưỡng trong đời sống quan hệ.
Các cuộc trò chuyện với bạn bè, kết nối với các thế hệ trẻ, khả năng kể lại trải nghiệm, lắng nghe điều chưa biết và thích nghi với những thay đổi của thế giới đều buộc não tiếp tục làm việc. Nhìn từ góc độ văn hóa và ngôn ngữ, giao tiếp xã hội vì thế không đơn thuần là hoạt động giải trí. Đó còn là quá trình duy trì căn tính, trao truyền ký ức và tiếp tục tìm thấy vị trí của mình trong cộng đồng.
Cuộc phỏng vấn nhà thần kinh học Emily Rogalski dưới đây mở ra một cách nhìn đáng chú ý: muốn gìn giữ một bộ não linh hoạt khi tuổi cao, có lẽ chúng ta không chỉ cần “luyện trí nhớ”, mà còn cần bảo vệ những không gian trong đó các thế hệ còn có thể gặp gỡ, trò chuyện, dạy nhau, và học lẫn nhau.
![]() |
| Giao tiếp xã hội là chìa khóa cho lão niên khỏe mạnh (Nguồn: Newscientist.com) |
Bí quyết giữ trí não minh mẫn ở tuổi già
Nhà thần kinh học Emily Rogalski nghiên cứu các cá nhân SuperAger (*) – ở độ tuổi 80 hoặc 90 có trí nhớ sắc bén bất thường, và lối sống của họ cho thấy những cách để làm chậm suy giảm nhận thức.
Khi già đi, trí nhớ của ta có thể sẽ suy giảm. Khả năng nhớ nơi ta đỗ xe hoặc tên của thầy cô đầu tiên sẽ kém sắc bén hơn ở tuổi 80 so với tuổi 50, nếu ta thuộc nhóm đa số. Tuy thế một nhóm nhỏ ở độ tuổi 80 trở lên không gặp suy giảm này: họ có trí nhớ sánh ngang những ai trẻ hơn hàng chục tuổi. Chính nhóm này là đối tượng Emily Rogalski quan tâm.
Rogalski, nhà thần kinh học tại Đại học Chicago và đứng đầu nghiên cứu các cá nhân SuperAger, đang tìm hiểu cách họ duy trì được trí nhớ sắc bén, ngay cả khi họ có dấu hiệu của bệnh Alzheimer trong não. Rogalski và các đồng nghiệp của bà đã chỉ ra rằng các cá nhân được gọi là SuperAger có vỏ não và hồi hải mã lớn hơn, cả hai vùng não đều liên quan đến trí nhớ, và hiện đang nghiên cứu để làm sáng tỏ cơ sở thần kinh của khả năng ghi nhớ của họ. Bà chia sẻ với tạp chí New Scientist về những yếu tố tạo nên một cá nhân SuperAger, và cách ta có thể tăng cơ hội trở thành một cá nhân như vậy.
Emily Rogalski: SuperAger là những ai trên 80 tuổi nhưng có trí nhớ ít nhất cũng tốt như những ai ở độ tuổi 50 hoặc 60. Các lĩnh vực nhận thức khác của họ, như ngôn ngữ, chức năng điều hành và chú ý, cần ở mức trung bình trở lên so với độ tuổi. Hầu như những ai tôi gặp đều có thể nghĩ đến ít nhất một ai đấy trong đời – dù đó là cô, chú, hàng xóm hay bạn bè – mà bạn sẽ không bao giờ tin họ đã 90 tuổi. Họ hành động như thể họ mới 50 tuổi.
Chúng ta nghe nói về các cao niên đạt những kỳ tích thể chất phi thường, chẳng hạn trăm tuổi chạy marathon. Tại sao bạn tập trung vào các yếu tố cần thiết để có một trí nhớ phi thường hơn các đặc điểm khác?
Mất trí nhớ là điều mà bậc cao niên phàn nàn nhiều nhất khi họ già đi, và nó cũng là triệu chứng chính của Alzheimer. Là nhà thần kinh học, đó là điều tôi quan tâm. Các cá nhân có trí nhớ phi thường trên 80 tuổi đã vượt qua nguy cơ lớn nhất mắc Alzheimer, dấu hiệu cho thấy mình già đi. Một cách để nghiên cứu Alzheimer là xem xét những sai sót đang xảy ra và cố gắng đảo ngược chúng. Cách khác là xác định/tìm kiếm những ai đang tránh chứng suy giảm trí nhớ do tuổi tác, và trên thực tế đang sống khỏe mạnh, rồi tự hỏi, "Cách nào để quý vị làm được điều đó?"
Làm thế nào để tìm thấy các cá nhân này?
Chúng tôi dành nhiều thời gian trong cộng đồng, chẳng hạn như các chợ nông sản và các khu dân cư dành cho cao niên, nơi chúng tôi thuyết trình về lão hóa lành mạnh, và đó là nơi bạn có thể gặp gỡ họ. Việc này cũng thông qua truyền miệng – một số bậc cao niên đặc biệt của chúng tôi giỏi tìm kiếm các cao niên đặc biệt khác. Ban đầu chúng tôi chỉ tuyển chọn từ khu vực Chicago, nhưng hiện nay chúng tôi đã có mặt tại năm địa điểm ở Mỹ và Canada, cho phép [không chỉ] đại diện theo khu vực, mà còn đại diện cả về chủng tộc và sắc tộc.
Làm thế nào đánh giá các ứng viên để đảm bảo họ đủ điều kiện đạt danh hiệu cao niên đặc biệt? Và sau đó, họ tham gia nghiên cứu của bà thế nào?
Khi ai đấy có tiềm năng trở thành lão niên đặc biệt, họ sẽ thực hiện các bài kiểm tra nhận thức, khảo sát, [và] có một cuộc phỏng vấn lâm sàng và một cuộc kiểm tra thần kinh ngắn gọn. Họ cũng được chụp cộng hưởng từ (MRI) não và lấy máu để xem xét các yếu tố di truyền. Họ thường không biết rằng mình có trí nhớ phi thường, hoặc cho biết không có khả năng đó suốt cuộc đời, nhưng sau đó họ cực tự hào.
Và chúng tôi luôn nói rằng họ sẽ ở bên chúng tôi suốt đời và cả sau này, bởi họ không chỉ đến thăm khám lần đầu; họ còn quay lại hai năm một lần. Họ cũng tham gia các cuộc gọi kiểm tra sức khỏe định kỳ sáu tháng một lần, và chúng tôi yêu cầu họ hiến tặng não bộ khi qua đời, điều cho phép chúng tôi nghiên cứu các yếu tố tế bào và phân tử mà chúng tôi không thể dễ dàng tiếp cận khi bệnh nhân còn sống.
Kết quả khám nghiệm tử thi thường cho thấy điều gì?
Nhìn chung, bậc cao tuổi thường có ít protein tau [một loại protein có thể tạo thành các đám rối, được cho là góp phần gây bệnh Alzheimer]. Tuy nhiên, có những cá nhân mang nhiều bệnh lý liên quan đến Alzheimer, đến mức một nhà thần kinh học có thể nói rằng cụ ấy có khả năng suy giảm nhận thức. Ngược lại, chúng ta có một số nghiên cứu trường hợp cho thấy họ có ít bệnh lý hơn nhiều so với dự kiến ở 95 tuổi.
Chúng ta biết rằng một số có thể được bảo vệ về di truyền chống phát triển Alzheimer, nhưng dường như một số cao niên bà thấy đã phát triển các dấu hiệu bệnh lý của bệnh, mà không có triệu chứng.
Khi chúng tôi bắt đầu dự án về cá nhân cao tuổi, đã có câu hỏi với tôi nhiều lần rằng có lẽ những ai cao tuổi đơn giản có nguy cơ mắc Alzheimer thực sự thấp, nhưng đó không phải là những gì chúng tôi thấy. Nếu những ai là SuperAger vốn dĩ được bảo vệ khỏi Alzheimer, về lý thuyết, điều đó phải được phản ánh trong gene của họ. Thế mà khi so sánh họ với những ai có nhận thức trung bình, chúng ta thấy rằng nhóm đối chứng không khác biệt đáng kể về di truyền so với nhóm SuperAger. Thậm chí một số có nguy cơ mắc Alzheimer cực cao và vẫn thuộc nhóm SuperAger.
Tại sao như vậy? Liệu họ có yếu tố bảo vệ nào giúp loại bỏ nguy cơ? Chúng ta không có công thức thần kỳ nào, nhưng chúng ta đã thấy các dấu hiệu tế bào độc đáo liên quan đến hiện tượng SuperAger. Thứ nhất, các cá nhân này có nhiều tế bào thần kinh đặc biệt gọi là tế bào thần kinh Von Economo, chỉ được mô tả ở hai vùng não. Một là vỏ não trước trán (anterior cingulate), và vùng còn lại là vỏ não thùy trán (frontal insular cortex) [vùng liên quan đến ra quyết định]. Ở vỏ não trước trán, lượng tế bào thần kinh này ở các SuperAger nhiều gấp bốn đến năm lần. Và trên ảnh chụp cộng hưởng từ (MRI), vỏ não trước trán dày hơn của SuperAger so với đồng loại từ 50 đến 60 tuổi. Vùng này thực sự quan trọng với chú ý, và chú ý là điều cần thiết cho trí nhớ.
Khi bà hỏi họ về lối sống của họ, điều gì thường được nhắc đến?
Khi tôi nghĩ về điểm chung của những ai sống thọ vượt bậc, điều đầu tiên là họ có xu hướng hoạt động xã hội tích cực. Nếu bạn sống đến 111 tuổi, những ai cùng thế hệ với bạn không còn sống nữa, vì vậy bạn cần tìm kiếm kết nối với các thế hệ trẻ hơn để tránh bị cô lập và cô đơn. Các cá nhân này tìm thấy kết nối. Đôi khi, đó là với những ai trẻ hơn nhiều bằng cách tình nguyện trong các lớp học, và đôi khi, nếu bạn 95 tuổi, đó là tìm kiếm kết nối với ai đó 65 tuổi, có thể sống cùng khu dân cư dành cho bậc cao tuổi.
Đặc điểm khác chúng ta thấy là khả năng thích nghi, kiên cường, và phục hồi. Bạn có thể cho rằng ai nấy đều có cuộc sống dễ dàng. Không phải vậy. Chúng tôi có một thành viên duy nhất trong gia đình sống sót sau thảm họa Holocaust. Bà ấy ở trong trại tập trung. Chúng tôi có những cá nhân mất con khi còn nhỏ. Họ dường như nói rằng, “Cuộc sống đã mang đến cho tôi điều gì đó khó khăn, nhưng tôi sẽ vượt qua”.
Dù chắc chắn có nhiều bằng chứng về tầm quan trọng của chế độ ăn uống, điều này không nhất quán ở các bậc trường thọ. Trên thực tế, nhiều trong số họ sẽ nói, “Trời ơi, không thể nào do chế độ ăn uống của tôi. Hồi nhỏ tôi ăn quá nhiều đồ hộp”. Tập thể dục cũng khác nhau. Với ai đấy, bài tập thể dục của họ có thể chỉ là động tác giãn cơ trên ghế vì họ cần xe lăn… [rồi có các tấm gương khác] đạp xe hàng trăm dặm.
Nghe về câu chuyện của một nạn nhân sống sót sau thảm họa Holocaust thật sự xúc động.
Bà ấy đã trải qua nỗi đau và khó khăn khủng khiếp, vậy mà khi tôi gặp, lúc bà đã hơn 90, bà vẫn điều hành cửa hàng quà tặng trong khu dưỡng lão của mình. Bà ấy tìm thấy kết nối. Bà ấy sẵn lòng chia sẻ câu chuyện và học hỏi.
Tại sao giao tiếp xã hội tốt cho não?
Não của chúng ta cực thích làm những việc mới mẻ và đầy thử thách. Khi chúng ta nâng tạ, chúng ta bước ra khỏi vùng thoải mái về thể chất, và đó là cách chúng ta xây dựng cơ bắp. Chúng ta cần làm điều tương tự với não để giữ cho nó hoạt động. Thật khó để trò chuyện, đặc biệt là với những ai bạn không quen biết, nhưng đó là bài tập tốt cho não.
Một số lão niên dường như thực sự được lợi từ tìm kiếm bầu bạn của các cá thể trẻ hơn nhiều. Tại sao thế?
Trong các trường hợp đó, các bạn được hướng dẫn lẫn nhau. Lão thành đóng vai trò hướng dẫn cho trẻ em, cũng như trẻ em hướng dẫn cho bậc lão thành. Tôi nhớ có một cụ quyết định chuyển về sống cùng con gái, không phải vì lý do sức khỏe hay tinh thần, mà vì muốn duy trì liên hệ với các cháu. Ông ấy nói: “Tôi phải nhớ rằng chúng không biết nhiều về Frank Sinatra… nên tôi phải hỏi chúng những câu như: ‘Chance the Rapper hay Taylor Swift có đến thành phố không?’” Đó là cách khác để duy trì tương tác về nhận thức và xã hội.
Liệu có phải trí nhớ sắc bén càng dễ hòa nhập xã hội hơn, chứ không phải hòa nhập xã hội giúp trí nhớ của họ sắc bén hơn?
Chúng ta phải hết sức cẩn thận để hiểu khi nào điều gì đó là nguyên nhân và khi nào hai yếu tố chỉ đơn thuần có liên quan. Dường như ai đấy có thể duy trì các quan hệ xã hội vì họ có khả năng nhận thức tốt, nhưng chúng ta không nghĩ đấy là tất cả. Chúng ta thậm chí còn thấy rằng duy trì các quan hệ xã hội khi đối mặt với Alzheimer có xu hướng suy giảm chậm hơn.
‘Ly rượu martini mỗi ngày là cách họ tạo dựng các quan hệ và tìm kiếm bình yên’.
Đôi khi hành trình dẫn đến một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh có vẻ hơi khắt khe: ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên, không hút thuốc, đi ngủ sớm. Liệu các siêu thọ có thỉnh thoảng nuông chiều bản thân không?
Chắc chắn rồi, đôi khi chúng tôi hỏi họ, "Các bác nghĩ điều gì khiến mình trở thành siêu thọ?" và tôi nhớ có hai cụ cùng tham gia dự án đã nói, "Đó là vì chúng tôi uống martini với nhau mỗi ngày lúc 5 giờ chiều". Điều đó không có nghĩa tôi ủng hộ rượu bia, nhưng cần xem xét trong bối cảnh cụ thể. Ly martini mỗi ngày là cách họ tạo dựng các quan hệ và tìm kiếm bình yên.
Với toàn bộ nghiên cứu bà đã thực hiện về các yếu tố tạo nên một bậc trường thọ, bà sẽ đưa ra lời khuyên nào cho những ai đang hy vọng sống lâu như vậy?
Trước đây chúng ta thường nghĩ về di truyền học như kiểu "ôi, mình chọn nhầm cha mẹ rồi", nhưng giờ chúng ta biết rằng di truyền học phức tạp hơn nhiều. Nó không chỉ đơn thuần được trời phú cho may mắn hay xui xẻo. Hên xui dường như có thể thay đổi, và về cách thức thay đổi, tôi quay lại với các liên hệ xã hội. Nếu bạn đang cuốc bộ về nhà từ chỗ làm và nghĩ, "Mình nên nghe nhạc hay gọi điện cho bạn?", tôi khuyên nên gọi điện cho ai đấy.
Kết luận
Nghiên cứu về nhóm SuperAger chưa cung cấp một “công thức thần kỳ” để bảo đảm bất kỳ ai cũng có thể giữ nguyên trí nhớ đến tuổi 80, 90, hay hơn nữa. Các dữ liệu được trình bày mới chủ yếu cho thấy liên hệ đáng chú ý giữa đặc điểm não, khả năng thích nghi, sức bền tâm lý, và đời sống xã hội; chúng chưa cho phép quy mọi khác biệt nhận thức về một nguyên nhân đơn nhất.
Tuy nhiên, từ góc nhìn văn hóa, thông điệp của nghiên cứu vượt ra ngoài phạm vi thần kinh học. Một cộng đồng biết tạo điều kiện để bậc cao niên tiếp tục được trò chuyện, học hỏi, làm việc có ý nghĩa và giao tiếp với thế hệ trẻ cũng là một cộng đồng đang bảo vệ ký ức của chính mình.
Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt trong quá trình ấy. Mỗi lần kể lại một câu chuyện, hỏi về một bài hát mới, giải thích một kinh nghiệm cũ, hoặc cố gắng hiểu cách nói của thế hệ sau, lão niên không chỉ thực hiện một bài tập nhận thức. Họ đang thương lượng lại quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, giữa bản thân và cộng đồng.
Bởi vậy, lời khuyên “hãy gọi điện cho một bạn hữu” ở cuối cuộc phỏng vấn có thể được hiểu rộng hơn: hãy đừng để các quan hệ bị im tiếng. Đôi khi, gìn giữ một cuộc đối thoại cũng là gìn giữ một phần của trí nhớ.
(*) Tạm dịch: bậc cao niên có trí nhớ vượt trội
Chi chú của biên tập viên
Tác giả: Alexandra Thompson
Nguồn: newscientist.com
Liên hệ: https://www.newscientist.com/author/alexandra-thompson/
Ảnh: lấy từ newscientist.com
Bài gốc: nguồn mở
Những câu hỏi mở đầu cho tuyến thảo luận tiếp theo
1. Ngôn ngữ có phải là một hình thức “tập thể dục cho não”?
Một cuộc trò chuyện đòi hỏi chúng ta đồng thời nhớ, nghe, lựa chọn từ ngữ, suy đoán ý định, điều chỉnh cảm xúc và phản hồi kẻ đối diện. Vậy hoạt động giao tiếp có thể tác động tới trí nhớ và nhận thức theo những cơ chế nào?
2. Trí nhớ là tài sản của riêng cá nhân hay còn được lưu giữ trong cộng đồng?
Khi một bậc cao tuổi kể chuyện và có ai đấy lắng nghe, ký ức được tái hiện, xác nhận và truyền tiếp. Nếu các không gian kể chuyện biến mất, chúng ta chỉ mất một hoạt động xã hội, hay còn mất cả một dạng “trí nhớ tập thể”?
3. Vì sao giao tiếp liên thế hệ có thể đặc biệt quan trọng?
Cao niên truyền kinh nghiệm và chiều sâu lịch sử; thanh niên đem đến từ vựng, công nghệ, âm nhạc, và cách nhìn mới. Liệu “hướng dẫn lẫn nhau” giữa các thế hệ có thể trở thành mô hình văn hóa hỗ trợ lão hóa lành mạnh?
4. Mỗi nền văn hóa tạo điều kiện lão hóa nhận thức khác nhau thế nào?
Gia đình nhiều thế hệ, đời sống làng xóm, chợ truyền thống, câu lạc bộ, không gian tín ngưỡng hay các cộng đồng trực tuyến có thể tạo các hình thức kết nối khác nhau. Các cấu trúc văn hóa ấy tác động ra sao đến cô đơn, cảm giác có ích, và sức khỏe nhận thức?
5. Có phải mọi hình thức giao tiếp xã hội đều có tác dụng giống nhau?
Một cuộc trò chuyện có chiều sâu, cùng thực hiện một công việc và hiện diện thụ động giữa đám đông có đem lại lợi ích tương đương không? Chất lượng quan hệ có quan trọng hơn số lượng quan hệ?
6. Khả năng kể lại nghịch cảnh liên quan gì đến sức bền tâm lý?
Các nhân vật được nhắc đến trong bài không phải ai cũng có cuộc đời thuận lợi. Liệu chuyển hóa đau khổ thành câu chuyện có thể giúp cá nhân tái tổ chức trải nghiệm, duy trì ý nghĩa sống và tăng khả năng thích nghi?
7. Công nghệ số đang bảo vệ hay làm suy yếu giao tiếp của cao niên?
Cuộc gọi video, mạng xã hội và trợ lý AI có thể giúp vượt qua khoảng cách địa lý; nhưng chúng cũng có thể thay thế quan hệ trực tiếp bằng tương tác hời hợt. Công nghệ cần được thiết kế thế nào để mở rộng chứ không làm nghèo đời sống giao tiếp?
8. Một cộng đồng “thân thiện với trí nhớ” cần có những thiết chế nào?
Thay vì chỉ khuyên từng cá nhân phải sống tích cực, xã hội có cần xây dựng thư viện kể chuyện, lớp học liên thế hệ, không gian sinh hoạt cộng đồng, và các chương trình để bậc lão niên tiếp tục đóng góp tri thức hay không?
